Các bà xuống cả
Vị đậm và từ đó cứ đến ngày vua đến làng. Người tíu tít gánh vào chợ Hàng Bè. Ngài kinh ngạc vì rau không chát. Người ta cũng chẳng ngại gì. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Bánh tôm. Dân tránh giặc trở về thấy các cọng rau hoang vương trên bờ và họ biết có thể ăn được. Hiện thời không còn tàu điện. Nay là Tân Phượng. Vùng này có đồng dao: Rau muống Trũng Xuồng/Cua đường Đồng Cấn.
Cung cấp rau muống cho Hà Nội thời bao cấp chủ yếu là các xã ở huyện Thanh Trì. Giảng Võ. Rau đay. Ăn ngon hơn. Các mầm rau bén chân và dần lên xanh. Hình bóng lớp người tảo tần một thời cũng đã vào kí vãng và cũng không còn các nhà kén ăn đặt rau muống thửa. Trung Tự và nhiều làng khác của đế đô. Khi rau dài. Phần ngọn chui qua thân ốc xoắn như lò xo. Rau răm… Thế nhưng rau muống lại có nhiều truyền thuyết.
Thành Thăng Long được phóng thích. Mướp. Một người đã nghĩ ra cách khoét đít vỏ ốc bươu cho ngọn rau chui qua. Mưa xuống. Rau muống ruộng tàn úa. Cả thời bao cấp Hà Nội sống như thế nhưng không phải lúc nào cũng có thứ rau muống ấy. Cũng như ở làng Giảng Võ. Toàn là rau muống của các bà ở Thịnh Liệt. Bún riêu. Cải xanh. Còn rau muống bè cốt tử do các hiệp tác xã: Phương Liệt.
Rau diếp hay lá tía tô trông hết sức thân ái. Nếu gặp mưa thì còn nhanh hơn. Ngọn bò dài trên mặt nước. Quận Đống Đa) ở ven đế đô có nhiều hồ ao nên cua ốc cũng lắm. Rau xanh tốt. Rau không sống nổi. Ở toa cuối. Thân có đốt và lá hình trái tim thì đã hái về ăn.
Ăn giòn. Lá thưa dâng lên đức vua. Có lẽ vua ăn quá nhiều của ngon vật lạ nên khi ăn rau muống thấy lạ miệng chăng? Rau muống thời bao cấp Có một điều kỳ lạ không ai giảng giải được là bữa trưa ăn rau muống.
Từ đó họ ăn thứ rau mọc hoang này. Tàu đỗ bến Đinh Tiên Hoàng. Tương Mai. Các sợi rau chẻ từ cuộng gặp nước tự ôm chặt lấy sợi hoa chuối. Nhưng để làm chấp thuận cái miệng. Bớt chát hơn. Ngài khen ngon và từ đó cứ vào mùa hè. Rau muống bè chính yếu cân cho các cửa hàng dành cho cán bộ cao cấp ở phố Tông Đản hay phố Nhà Thờ. Các chợ xanh (cốt tử bán rau) ở Hà Nội có khá nhiều người chuyên bán rau sống.
Cũng là đĩa rau muống luộc nhưng rau muống bè xanh hơn. Rau phát ra tiếng kêu tanh tách nghe sướng tai.
Bữa cơm đã trở nên bữa ăn. Cung cấp thứ rau này hầu hết là các vùng xa và không còn rau ngon như ngày trước.
Cua đồng Khánh Hiệp làm nên bốn sản vật quý xứ Đoài xưa. Chừng một tuần sau. Ngọn nhỏ ăn giòn. Về rau muống tiến vua ở xã Sen Chiểu (huyện Phúc Thọ) dân gian lưu truyền câu chuyện.
Chẳng thể lên được thì họ mua loại rau già này mang về xếp thành đống sau đó phủ bao tải lên ủ. Thời bao cấp. Dân chúng vốn nghèo không có sơn hào hải vị đành dâng món rau muống mà họ ăn hằng ngày hy vọng nhà vua xá tội. Dân miền Bắc thường ăn các loại rau luộc nên khi vớt rau muống ra bao giờ cũng cho thêm dăm quả sấu xanh vào nồi nước. Chiều ăn rau muống. Ruộng nên đô thị cho thành lập các hợp tác xã nông nghiệp.
Dân tiến vua ăn thử. Nước máy nội thành thời đó không dư dả. Rất nhiều hồ ao bị lấp. Mùa đông giá lạnh. Hiệp tác xã cho xã viên đi cắt rồi mang cân cho công ty rau hoa quả.
Những truyền thuyết về rau muống Các loại rau thuần Việt như mồng tơi. Nó cùng với dơi Sài Sơn. Trong đó có Thịnh Liệt. Dăm bà đưa rau xuống để kịp bán cho người tranh thủ đi chợ sớm. Rau lại cho hái kỳ hai. Bởi thế mới có “làng trong phố”. Rau muống bè cũng không vì ruộng đã thành đất ở. Ăn thử. Xã Tân Mỹ. Trong khi đó người ta lại chẳng thể ăn mướp. Hào Nam.
Rau muống ruộng không còn. Các làng có nhiều ao hồ. Rau trồng ở ruộng xâm xấp nước. Có những cọng rau dài tới nửa mét mua về phải ngắt bỏ rất nhiều. Để vua biết đến làng và cũng tỏ lòng tôn kính nhà vua.
Rau muống bè xào với tỏi không cần thịt bò cũng đủ quyến rũ. Và khi thời điểm lạnh nhất qua đi là lúc xã viên các hiệp tác xã bắt đầu dỡ đống xơ xuống thuyền nan cho rải đều ra các ô nước được định vị bởi các cây tre hay nứa để những dải rau giống khỏi bị phiêu dạt khi gió to.
Đó chính là rau muống. Việc coi ngó cũng như thu hoạch đều trên chiếc thuyền nan chòng chành.
Su hào. Theo kinh nghiệm của các bà nội trợ. Sau 1954. Có một làng rất xa Thăng Long. Và họ cũng bán ở các chợ xanh. Quân binh thấy các hồ ao trong đế đô có một loại rau hoang. Thường sau đợt thu hoạch chừng năm đến mười ngày. Kim Liên. Vua kinh lý qua làng Linh Chiểu (xã Sen Chiểu). Quốc gia phân chia lại các khu (nay là quận). Vừa ngon lại không chát như rau muống ruộng.
Rau ngày nay Thuở còn xe điện. Ngày hôm sau và những ngày tiếp theo cũng ăn rau muống mà không chán. Bắt mắt hơn. Vốn xưa những làng này có nghề thả rau nên họ có kinh nghiệm làm ra những mớ rau ngon.
Ăn thử phần đó thấy mềm. Tuy nhiên để rửa sạch bèo tấm mất khá nhiều thời gian và tốn nước. Khi chuyến tàu trước nhất leng keng chạy dưới bóng đèn đường đỏ quạch từ Kẻ Mơ lên Bờ Hồ.
Một ngày. Từ đó dân quanh vùng gọi rau muống Linh Chiểu là “rau muống tiến vua”. Thành thị Bắc Giang cũng có truyền thuyết về rau muống tiến vua. Hết mùa sấu thì thay bằng quả quéo hay lá me. Huyện của Hà Nội nên lọt vào nội thành có nhiều làng vốn trước đó là vùng ven.
Hồ nội ô. Một truyền thuyết khác là làng Kim Liên (nay là phường Kim Liên. Trong đó có rau muống chẻ. Điều thú nhận là khi ngâm rau sống. Đặc điểm của rau muống bè Hà Nội là nhuyễn thể và giòn thành ra lúc nhặt. Vào tháng se lạnh. Không đỏ hay tái như rau ruộng. Mà không có rau sống thì như thiếu cái gì đó.
Rau muống tiến vua ở xã Sen Chiểu (huyện Phúc Thọ). Cũng không còn các bà quần xắn đến đầu gối bán rau.
Người gánh thốc lên chợ Đồng Xuân. Dân trong vùng lại chọn những cây rau thân trắng. Bị thiếu ánh sáng nên trắng như lụa bạch và không có lá. Ăn bún chả. Truyền thuyết về các loại sản vật “tiến vua” ít nhiều cũng chứa đựng sự thực. Chuyện kể rằng khi Lê Lợi cho quân vây hãm thành Đông Quan (giặc Minh đổi Thăng Long thành Đông Quan). Trung Tự. Rau bè có dính bèo tấm thì đó là rau non.
Cá chép Cấn Khánh. Dân gian chỉ ghi lại sự tích vài loại rau ghém: Thì là. Rau muống nào cũng có thể chẻ nhưng rau muống bè mà chẻ thì vừa đẹp mắt. Và các hộ gia đình thả xuống ao. Định Công. Còn bát nước mắm vắt quả chanh sẽ biến màu thẫm sang màu vàng nhạt như mật ong làm cho nước mắm mềm và thơm hơn. Ngài nghỉ trưa ở đây.
Sau ba lần hái. Bí đỏ… liên tục. Và dân địa phương mượn “mồm vua” để tôn vinh sản vật địa phương mình. Thêm vài quả cà muối hay cà bát muối dầm xì dầu ớt tỏi thì “đánh” hết cả nồi cơm là chuyện thường. Mùa hè. Khương Thượng. Mồng tơi. Hiện giờ người ta cũng ít ăn rau muống hơn vì các bà nội trợ có nhiều sự chọn lọc và với nhiều gia đình. Kim Liên có loại rau muống do dân thả ở ao hồ có thân trắng.
Bún ốc. Nhà nào cũng làm rau tiến vua.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét